(KTSG) – Sau năm 2025 tăng trưởng tín dụng ở mức cao, các bên liên quan bắt đầu nói nhiều hơn về mức độ rủi ro của quy mô dòng vốn chảy từ hệ thống tổ chức tín dụng vào nền kinh tế, dù năm 2026 tăng trưởng GDP được…
(KTSG) – Sau năm 2025 tăng trưởng tín dụng ở mức cao, các bên liên quan bắt đầu nói nhiều hơn về mức độ rủi ro của quy mô dòng vốn chảy từ hệ thống tổ chức tín dụng vào nền kinh tế, dù năm 2026 tăng trưởng GDP được đặt mục tiêu ở mức hai con số.
Ngân hàng khó bơm vốn liên tục
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có văn bản thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, đi kèm với đó là câu “có điều chỉnh theo tình hình thực tế”. Con số này giảm so với mục tiêu đặt ra vào đầu năm 2025 là 16%.
Trong cuộc gặp gỡ với báo chí mới đây, Phó thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà chia sẻ cơ quan quản lý đã cấp thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng vào nửa cuối năm 2025, khi tình hình vĩ mô tương đối khả quan và đặt trong mục tiêu chung là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Kết quả tăng trưởng tín dụng đến cuối năm 2025 đạt hơn 19% so với cuối năm 2024, tương ứng quy mô dư nợ nâng lên con số 18,5 triệu tỉ đồng. “Con số này khá trọn vẹn so với mục tiêu đề ra, giữ được mặt bằng lãi suất, thanh khoản và tỷ giá thực ổn định”, ông Hà đánh giá.
Trong báo cáo cuối năm, lãnh đạo các ngân hàng thương mại quốc doanh nhìn nhận năm 2025 đối diện “mục tiêu kép”, khi đứng trước bài toán thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong khi vẫn phải giảm lãi suất cho vay.
Lịch sử cho thấy cơ quan điều hành chính sách tiền tệ thường thận trọng vào đầu năm, nhưng lần này họ không phải là bên duy nhất. Trước đó, Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia đã nhắc đến khả năng giảm tốc tín dụng, điều hành thận trọng và phối hợp hợp lý hơn với chính sách tài khóa.
Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (thuộc NHNN), đang có hai lo ngại về hoạt động bơm vốn ra thị trường. Một là về quy mô, hiện lên mức 146% trên GDP, mức cao nhất trong số các quốc gia đang phát triển tương đồng. Còn lo ngại lớn hơn là thanh khoản hệ thống và chênh lệch kỳ hạn khi huy động ngắn hạn phải tài trợ cho khoản vay dài hạn.
Thanh khoản hệ thống đã là mối lo thực tế trong tháng 12-2025, dù nay đã vơi bớt đáng kể. Tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng trong năm 2025 là hơn 14%, thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng. Theo ông Quang, khoảng chênh lệch này tạo sức ép thanh khoản hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, kênh tiền gửi cũng bị cạnh tranh bởi các kênh đầu tư khác nên cũng ảnh hưởng đến dòng tiền đổ về các tổ chức tín dụng.
Việc đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% trong khi mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số được thị trường chung đánh giá là thấp hơn kỳ vọng, theo công thức phổ quát nhất là cứ 2 điểm phần trăm tín dụng đánh đổi lấy 1 điểm phần trăm GDP. Tức là kỳ vọng tăng trưởng tín dụng trong năm nay thông thường sẽ là 18-20%.
Tuy nhiên, theo ông Quản Trọng Thành, Giám đốc khối nghiên cứu, Công ty Chứng khoán Maybank Việt Nam (MSVN), tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp trong năm nay nên ở mức 15-16%, xét đến cơ cấu kinh tế và năng lực huy động vốn. Một kịch bản “vừa đủ” và khả thi sẽ là hỗ trợ tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức 8,5%, đi kèm với việc mở rộng chính sách tài khóa hiệu quả.
“Khi nghe con số mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, e ngại đầu tiên của các nhà đầu tư nước ngoài là khả năng mất cân đối vĩ mô. Việc điều hành tín dụng trong năm như chạy xe đến đích, tốc độ còn dựa trên sự tính toán hợp lý giữa mức nhiên liệu sẵn có và mức gồ ghề của mặt đường”, ông Thành nhấn mạnh.
Dòng vốn cần phải hiệu quả
Thị trường chứng khoán phản ứng ngay lập tức với lo ngại tín dụng có thể giảm tốc trong năm nay, đặc biệt là ở nhóm bất động sản. Đi cùng chi phí huy động vốn tăng lên, khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay cũng được nhắc đến nhiều hơn. Những diễn biến mới này dẫn đến quan điểm về việc đảo chiều chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào con số mục tiêu tăng trưởng như hiện nay, đây không phải là sự đảo chiều mà là cách tiếp cận thận trọng hơn để giảm sự kỳ vọng “bơm tiền” vào thị trường. Năm ngoái đã xuất hiện mối quan ngại về giá bất động sản, chứng khoán và cả lạm phát.
“Chính sách tín dụng trong năm nay không phải là sự điều chỉnh thu hẹp cho thị trường bất động sản, mà là những bước đi kỹ thuật cần thiết để đưa thị trường trở về trạng thái cân bằng sau một năm 2025 bùng nổ”, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc khối Nghiên cứu và phát triển khách hàng cá nhân, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, nhận định.
Dòng tiền thúc đẩy tăng trưởng được cả nhà điều hành chính sách và các bên phân tích nhìn nhiều hơn sang phía chính sách tài khóa. “Định hướng điều hành chính sách tiền tệ trong thời gian tới là dựa trên nền tảng chính sách tài khóa mở rộng có trọng điểm, tập trung vào ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát”, Vụ trưởng vụ Chính sách tiền tệ nói tại buổi họp báo cuối năm ngoái.
Vấn đề mấu chốt vẫn là khơi thông dòng vốn hiệu quả. Thông cáo mới nhất của NHNN cũng tiếp tục nhắc lại yêu cầu các tổ chức tín dụng “kiểm soát chặt chẽ” tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản, thay vào đó là hướng dòng vốn đến lĩnh vực thực, ưu tiên và động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Nhưng không chỉ có dòng chảy tín dụng, dòng vốn đầu tư công cũng được đặt ra yêu cầu cải thiện hiệu quả, trong bối cảnh các hạng mục đầu tư công với quy mô khổng lồ được nêu từ đầu năm 2025, nhưng cho đến cuối năm 2025 việc giải ngân vẫn chưa đạt chỉ tiêu.
Theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP là 10% trong năm nay, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên mức 40% trên GDP. Nhưng con số này có thể “kéo” lên 47% nếu không cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. “Đây là một áp lực rất lớn đối với nền kinh tế và dễ bị ảnh hưởng bởi những cơn sóng biến động vĩ mô”, ông Tuấn nhận định.
Sau một năm bùng nổ hút vốn của nhiều doanh nghiệp tư nhân với Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước hiện cũng đang đứng trước cơ hội mới với Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, cần lưu ý thêm hệ số đo lường hiệu quả đầu tư ICOR (ICOR càng cao thì hiệu quả càng thấp) của khu vực doanh nghiệp nhà nước lên tới 15, cao gấp ba lần so với khu vực tư nhân hay khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vốn chỉ ở mức 5.
“Mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam trong giai đoạn tới về bản chất là bài toán hiệu quả đầu tư, chứ không phải bài toán huy động thêm vốn. Đầu tư công cần được tái định vị từ vai trò động cơ bù đắp cho tăng trưởng sang vai trò tạo đòn bẩy nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, ông Tuấn đánh giá.
Trả lời