(Chinhphu.vn) – Với vùng biển rộng hơn 63.000 km², An Giang có nhiều lợi thế phát triển nuôi biển. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, tỉnh cần tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, tổ chức lại sản xuất, thu hút doanh nghiệp và ứng…

Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng và Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng chủ trì hội thảo – Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Sáng 27/10, tại Hội thảo khoa học “Phát triển bền vững nuôi biển An Giang giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng đặt ra bốn câu hỏi để các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp cùng tìm lời giải: Làm thế nào cụ thể hóa tiềm năng, lợi thế kinh tế biển? Phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm đời sống người dân như thế nào? Doanh nghiệp tham gia ra sao? Và tỉnh cần ban hành chính sách gì thuộc thẩm quyền để thúc đẩy phát triển kinh tế biển?
Theo ông Hồ Văn Mừng, sau hợp nhất, An Giang là tỉnh có diện tích lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long, với 3 đặc khu, đường bờ biển dài hơn 200 km và vùng biển rộng hơn 63.000 km², cùng lợi thế về kết nối giao thông với TPHCM và các địa phương trong vùng. Tỉnh hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia, song điều quan trọng là huy động và khai thác hiệu quả những nguồn lực hiện có.
Từ thực trạng nuôi biển, PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, chỉ ra những hạn chế như sản xuất tự phát, manh mún, công nghệ lạc hậu, thiếu liên kết và khả năng chống chịu gió bão còn hạn chế. Theo ông, chuyển sang nuôi biển công nghiệp là cần thiết, nhưng chỉ thay đổi vật liệu lồng bè không đủ giải quyết những bất cập trong tổ chức sản xuất.
Ở góc độ quản trị, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cho rằng không gian biển có tính đa chiều, đa tầng, đa dụng, đòi hỏi cách tiếp cận quản trị tổng hợp thay vì phát triển riêng rẽ theo từng ngành. Quy hoạch phân vùng chức năng và đầu tư phải tính đến các yếu tố kinh tế, sinh thái, xã hội, quốc phòng và an ninh.
Ông nhấn mạnh Việt Nam phải vững bước ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ”. Với An Giang, điều đó đòi hỏi đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển và nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, thay vì chỉ tăng diện tích và số lượng lồng nuôi.

Các đại biểu trao đổi về giải pháp phát triển nuôi biển An Giang theo hướng công nghiệp, hiện đại, gắn với thu hút doanh nghiệp và bảo đảm sinh kế bền vững cho ngư dân – Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Để tổ chức lại sản xuất, PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng đề xuất mô hình “làng nuôi biển hiện đại”, trong đó doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và dịch vụ dùng chung; doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và ngư dân có thể thuê hạ tầng để sản xuất.
Mô hình gồm hai bộ phận liên kết: Cụm hạ tầng sản xuất trên biển và cụm dịch vụ tổng hợp trên bờ. Các khâu từ lồng nuôi, hệ thống kỹ thuật, cung ứng vật tư, dịch vụ hậu cần đến chế biến, tiêu thụ được tổ chức theo chuỗi, thay vì mỗi hộ nuôi tự đảm nhận tất cả.
Theo đề xuất, dịch vụ đầu vào chung có thể giúp kiểm soát chất lượng, giảm giá thành; dịch vụ đầu ra chung tạo sản lượng tập trung, tăng khả năng tiếp cận thị trường. Việc quản lý tập trung cũng hướng tới kiểm soát chất thải, thức ăn dư thừa và rủi ro trong quá trình nuôi. Đây là những hiệu quả kỳ vọng, cần được kiểm chứng qua triển khai thực tế.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng đề nghị tỉnh xem xét chủ trương phát triển làng nuôi biển hiện đại kết hợp du lịch ở những khu vực phù hợp, lựa chọn mô hình thí điểm và thu hút doanh nghiệp tham gia. Cùng với đó, cần nghiên cứu đồng bộ chính sách về tài chính, bảo hiểm, khoa học, công nghệ, đào tạo ngư dân, phát triển chuỗi giá trị và tiêu chuẩn quản lý môi trường.
Tuy nhiên, chuyển đổi nuôi biển không chỉ là bài toán hạ tầng. PGS.TS. Võ Văn Nha, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, lưu ý việc lựa chọn đối tượng nuôi phải dựa vào điều kiện sinh thái, khả năng chủ động con giống, trình độ công nghệ nuôi thương phẩm, hiệu quả kinh tế và nhu cầu thị trường.
TS. Hoàng Xuân Bền, Viện Hải dương học, giới thiệu kinh nghiệm nuôi biển tự nhiên, kết hợp thả giống, phục hồi sinh cảnh với khai thác hợp lý và bảo tồn nguồn lợi. Theo cách tiếp cận này, việc lựa chọn khu vực, đối tượng nuôi và phương án thu hoạch cần dựa trên đánh giá điều kiện hệ sinh thái và khả năng triển khai thực tế.

Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược phát triển nuôi biển bền vững và kinh tế xanh, giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 giữa UBND tỉnh An Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam – Ảnh: chinhphu.vn/Lê Sơn
Vai trò của doanh nghiệp và sinh kế của người dân được các đại biểu bàn thảo thông qua những phương án liên kết sản xuất cụ thể.
Đại diện Australis Việt Nam cho biết doanh nghiệp đã khảo sát, nuôi thử cá chẽm tại đảo Nam Du trong 4 năm. Theo kết quả doanh nghiệp báo cáo, cá có thể đạt trọng lượng 3 kg sau chu kỳ nuôi 18 tháng. Australis đề xuất liên kết với ngư dân bằng hình thức cung cấp giống theo giá gốc, hỗ trợ kỹ thuật và thu mua cá đạt tiêu chuẩn theo mức giá cam kết.
Trong phương án tính toán của doanh nghiệp, giá thu mua dự kiến khoảng 84.500 đồng/kg cá sống tại trại, trong khi riêng chi phí thức ăn khoảng 66.300 đồng/kg cá, chưa bao gồm chi phí con giống, vận hành và các khoản khác. Đây là các số liệu dự kiến của phương án hợp tác, không phải kết quả hạch toán lợi nhuận thực tế của người nuôi.
Các thông số này cho thấy cần làm rõ tổng chi phí sản xuất, trách nhiệm và cơ chế chia sẻ rủi ro, lợi ích giữa doanh nghiệp với hộ nuôi trước khi triển khai liên kết. Australis cũng đề nghị địa phương hỗ trợ bố trí vùng nuôi tập trung, tiếp cận nguồn vốn và kết nối các nhà cung cấp lồng, lưới, thức ăn.
Trong khi đó, STP Group giới thiệu phương án hỗ trợ vốn theo mô hình liên kết ba bên giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp, giúp người dân tiếp cận lồng nuôi HDPE. Đây mới là đề xuất của doanh nghiệp, cần được xem xét về tính khả thi và cơ chế thực hiện theo thẩm quyền.
Những ý kiến tại hội thảo cho thấy, cùng với thu hút đầu tư và đổi mới công nghệ, An Giang cần lựa chọn mô hình nuôi phù hợp với từng vùng biển, kiểm soát chi phí và tác động môi trường, đồng thời tạo điều kiện để ngư dân tham gia chuỗi giá trị.
Bốn câu hỏi Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Văn Mừng đặt ra từ đầu hội thảo vì vậy cần tiếp tục được làm rõ qua các chính sách thuộc thẩm quyền, mô hình thí điểm và dự án cụ thể, để phát triển kinh tế biển gắn với sinh kế bền vững của người dân.
Nhân dịp này, UBND tỉnh An Giang và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược phát triển nuôi biển bền vững và kinh tế xanh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Lê Sơn
Để lại một bình luận
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.