Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta London dao động 3.431 – 3.561 USD/tấn; hợp đồng kỳ hạn giao tháng 11-2026 trên sàn London tăng 59 USD (1,07%), đạt 3.537 USD/tấn.
Giá cà phê Arabica trên sàn New York kỳ hạn giao tháng 3-2027 tăng 1,35%, tương đương 3.08 US cent/lb, hiện giao dịch ở mức 284,3 US cent/lb.
Ở trong nước, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục đi ngang, dao động 93.400 – 94.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, giá thu mua Robusta giữ mức cao nhất 94.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá được ghi nhận tại Đắk Lắk và Gia Lai.
9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn cà phê, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt 6,54 tỷ USD, giảm hơn 7%, do giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%.
![]() |
Bản tin nông sản hôm nay (7-10): Giá cà phê thế giới tăng nhẹ. Ảnh minh họa: baoninhbinh.org.vn |
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 9-2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 114.200 tấn cà phê, thu về hơn 500 triệu USD. Tính chung 9 tháng, giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt khoảng 4.537 USD/tấn, giảm gần 20% so với cùng kỳ.
Diễn biến này cho thấy sản lượng xuất khẩu tăng chưa đủ bù đắp tác động từ giá giảm. Trong khi đó, nguồn cung cà phê toàn cầu đang có xu hướng phục hồi sau giai đoạn giá tăng cao.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2025-2026 ước đạt 178,8 triệu bao loại 60 kg, tăng 3,5 triệu bao so với niên vụ trước. Sang niên vụ 2026-2027, sản lượng được dự báo đạt 189,7 triệu bao, tăng khoảng 6%.
Brazil được dự báo đóng góp phần lớn trong mức tăng này, với sản lượng khoảng 72 triệu bao. Sản lượng cà phê Việt Nam cũng được dự báo tăng từ 31,7 triệu bao lên 32,5 triệu bao, tương đương tăng khoảng 2,5%.
*Giá lúa gạo hôm nay giữ ổn định. Hai dòng lúa thơm chủ lực là OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.100 – 6.300 đồng/kg. Nhóm lúa chất lượng cao OM 5451 duy trì mức 6.000 – 6.100 đồng/kg; OM 34 trong khoảng 5.700 – 5.800 đồng/kg; lúa IR 50404 từ 5.800 đến 6.000 đồng/kg.
Giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 9.300 – 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 – 9.400 đồng/kg; CL 555 dao động 8.750 – 8.850 đồng/kg; OM 18 giữ mốc 8.700 – 8.850 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.700 – 8.800 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Thị trường bán lẻ tiếp tục đi ngang. Hiện, gạo Nàng Nhen niêm yết mức giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000 – 22.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 – 18.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện chưa thay đổi nhiều. Gạo Jasmine trong khoảng 515 – 519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm 440 – 445 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm từ 371 đến 375 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 8-2026, Việt Nam xuất khẩu 6,03 triệu tấn gạo, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm lần lượt 5% về lượng và 10% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 481,5 USD/tấn, giảm 5,9%.
Dự kiến, năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam được dự báo khoảng 3,94 tỷ USD, giảm 4% so với năm 2025, chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân những tháng đầu năm ở mức thấp.


Để lại một bình luận
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.