(Chinhphu.vn) – Các dự án lớn trong lĩnh vực đường sắt, năng lượng, hạ tầng số, điện tử, ô tô, cơ khí chế tạo… sẽ tạo ra nhu cầu lớn về vật liệu, thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật. Nếu nhu cầu này được xác định sớm,…

Dây chuyền sản xuất linh kiện ô tô, xe máy tại Khu công nghiệp Thăng Long – Ảnh: TTXVN
Khảo sát khoảng 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Bộ Công Thương năm 2024 cho thấy, thị trường trong nước vẫn là đầu ra chính của phần lớn doanh nghiệp. Có 75% doanh nghiệp chỉ cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khách hàng tại Việt Nam; 8% chỉ xuất khẩu các sản phẩm này ra nước ngoài; 17% vừa cung ứng cho khách hàng trong nước, vừa xuất khẩu.
Cơ cấu thị trường có sự khác biệt khá rõ giữa các ngành. Trong lĩnh vực cơ khí, ô tô, 83% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chỉ cung ứng cho khách hàng trong nước, 3% chỉ xuất khẩu và 14% có doanh thu từ cả hai thị trường.
Với ngành điện tử, mức độ tham gia thị trường nước ngoài cao hơn. Có 44% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chỉ cung ứng cho khách hàng trong nước, trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam; 16% chỉ xuất khẩu và 40% vừa cung ứng trong nước, vừa xuất khẩu.
Cơ cấu thị trường cho thấy đầu ra của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ gắn chặt với nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp. Với những khoản đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài, quy mô và sự ổn định của đơn hàng vì thế có ý nghĩa trực tiếp đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Có thị trường, doanh nghiệp mới dám đầu tư
PGS.TS. Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng, đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi thiết bị hiện đại, chi phí lớn, trong khi rủi ro thương mại cao và phụ thuộc nhiều vào đơn đặt hàng của các hãng lớn.
Hiện các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn chủ yếu gia công những chi tiết, linh kiện riêng lẻ, phần lớn chưa thuộc động cơ hoặc các bộ phận cốt lõi, chưa có nhiều đơn hàng về cụm chi tiết quan trọng, giá trị cao.
Theo ông Phan Đăng Tuất, kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy công nghiệp hỗ trợ trước hết cần dựa vào các chuỗi sản xuất trong nước, trong đó doanh nghiệp lớn đặt hàng cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ hơn. Nguồn đơn hàng từ các doanh nghiệp đầu chuỗi tạo thị trường để doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư và từng bước nâng năng lực sản xuất.
Ngành ô tô cho thấy khá rõ dư địa của thị trường này tại Việt Nam. Một chiếc ô tô cần số lượng lớn chi tiết, linh kiện từ cơ khí, điện-điện tử đến nhựa-cao su, nhưng khả năng cung ứng trong nước hiện còn hạn chế. Tùy loại linh kiện, tỉ lệ cung ứng trong nước mới khoảng 15-40% đối với linh kiện cơ khí, khoảng 15% đối với linh kiện điện-điện tử và 20% đối với linh kiện nhựa-cao su.
Ông Phan Đăng Tuất dẫn kinh nghiệm Hàn Quốc, nơi khoảng 1.400 loại chi tiết, linh kiện được dành để doanh nghiệp lớn đặt hàng từ các doanh nghiệp nhỏ. Theo ông, cùng với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nguồn đơn hàng ổn định đã tạo điều kiện cho hàng nghìn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phát triển.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cùng các đồng chí chủ trì Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” ngày 30/9 – Ảnh: chinhphu.vn/Phương Nguyên
Biến nhu cầu đầu tư lớn thành đơn hàng trong nước
Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho rằng, các dự án lớn trong những lĩnh vực như đường sắt, năng lượng, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, điện tử, ô tô và cơ khí chế tạo sẽ tạo ra nhu cầu lớn về vật liệu, thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật. Nếu năng lực cung ứng trong nước được chuẩn bị tương ứng, nhu cầu từ các dự án này có thể trở thành thị trường để phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và các chuỗi cung ứng trong nước.
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 xác định hướng hỗ trợ doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực công nghệ, quản trị, chất lượng và phát triển sản phẩm; hỗ trợ doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 của các doanh nghiệp dẫn dắt trong nước và quốc tế.
Các lĩnh vực được tập trung phát triển gồm điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, ô tô, cơ khí và tự động hóa, công nghiệp công nghệ cao, dệt may, da giày gắn với kinh tế xanh.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đặt vấn đề các tập đoàn trong nước chuyển từ “mua module hoàn chỉnh” sang “công bố tiêu chuẩn – đặt hàng phân hệ – đồng hành cùng nhà cung ứng Việt Nam”.
Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành những “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước.
Các dự án lớn cần có phương án sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước trên cơ sở năng lực đáp ứng, gắn với giá trị và hàm lượng công nghệ. Những khâu doanh nghiệp Việt Nam đã đủ năng lực cần được ưu tiên; những khâu đang phát triển cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Việc nhập khẩu công nghệ cao cũng cần gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực trong nước.
Để doanh nghiệp có thể chuẩn bị cho những đơn hàng như vậy, nhu cầu của các dự án lớn cần được xác định từ sớm và cụ thể hóa thành kế hoạch mua sắm. Từ kinh nghiệm triển khai các dự án dầu khí, năng lượng, Petrovietnam đề xuất xây dựng kế hoạch mua sắm trung và dài hạn, xác định những nhóm vật tư, thiết bị có khả năng sản xuất trong nước ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có thể biết trước nhu cầu, yêu cầu kỹ thuật và quy mô thị trường để tính toán đầu tư.
Với những sản phẩm trong nước có khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và giá thành cạnh tranh, Petrovietnam đề xuất áp dụng thỏa thuận khung hoặc hợp đồng dài hạn nhằm tạo đầu ra ổn định. Tập đoàn cũng đặt vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp thử nghiệm, chứng nhận sản phẩm và xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung cấp trong nước để kết nối với nhu cầu mua sắm của các dự án.
Việc xác định sớm nhu cầu về vật tư, thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật của từng ngành sẽ giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ biết thị trường cần sản phẩm gì, tiêu chuẩn phải đáp ứng và quy mô đơn hàng có thể hình thành. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp quyết định đầu tư thiết bị, công nghệ và tổ chức sản xuất.
Phương Nguyên
Để lại một bình luận
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.