Bài 1: Người trồng lúa đã dám làm khác

(Chinhphu.vn) – Một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp không đơn thuần là một đề án sản xuất nông nghiệp. Đó là phép thử đối với khả năng thay đổi tư duy của người nông dân, cách đồng hành của doanh nghiệp và hiệu quả của chính…

Fatz Admin lúc 2026-07-22

(Chinhphu.vn) – Một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp không đơn thuần là một đề án sản xuất nông nghiệp. Đó là phép thử đối với khả năng thay đổi tư duy của người nông dân, cách đồng hành của doanh nghiệp và hiệu quả của chính sách khi đi vào từng thửa ruộng. Từ những cánh đồng ở An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, đã phản ánh hành trình của những con người đang từng ngày biến một chủ trương lớn thành hiện thực, để từ đó mở ra một hướng đi mới cho hạt gạo Việt Nam và cả Đồng bằng sông Cửu Long.

Bài 1: Người trồng lúa đã dám làm khác- Ảnh 1.

Ông Trương Thanh Hà (thứ 2 bên trái) và các kỹ sư “3 cùng” kiểm tra lúa trên vùng nguyên liệu xã Định Mỹ – Ảnh: VGP/LS

Từ những ‘kỳ cục’ ban đầu đến khi ‘khỏe và ngon hơn’

Buổi sáng ở xã Định Mỹ, tỉnh An Giang, mặt trời vừa nhô khỏi cánh đồng, ông Trương Thanh Hà đã có mặt ngoài ruộng. Hai ha lúa là sinh kế của vợ chồng ông. Cha ông từng sống bằng nghề này, nhưng đến đời con ông không ai còn tiếp tục xuống đồng. Dẫu vậy, hai vợ chồng vẫn giữ ruộng giữa những mùa vụ nhiều biến động.

Ít ai nghĩ người nông dân nay nói rành rọt về gieo sạ thưa, giảm phân bón và giảm thuốc bảo vệ thực vật lại từng phản ứng mạnh những khuyến cáo ấy. Năm 2021, khi các kỹ sư “3 cùng” của Tập đoàn Lộc Trời vận động tham gia hợp tác xã, ông Hà không chỉ nghi ngại doanh nghiệp có thực hiện đúng cam kết mà còn khó chấp nhận quy trình canh tác mới.

Ông không sao tin được những khuyến nghị dùng ít giống, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhưng vẫn có thể tăng lợi nhuận bởi “Nghe kỳ cục quá!” Với ông, mỗi quyết định trên ruộng đều gắn với sinh kế gia đình. Tập quán canh tác qua nhiêu thế hệ đã khẳng định: Muốn nhiều lúa phải gieo sạ dày, muốn chắc năng suất phải bón nhiều phân, phun nhiều thuốc. Ông e ngại phải đánh đổi sự an toàn lấy phương thức canh tác mới chưa biết hiệu quả thế nào.

Tuy nhiên, ngay vụ đầu tiên làm theo quy trình mới, năng suất vẫn được bảo đảm trong khi chi phí đầu vào giảm. Ông diễn tả sự chuyển biến ấy bằng một câu mộc mạc: “Sau khi chuyển đổi làm theo quy trình mới thì thấy êm”. Đằng sau chữ “êm” là quá trình từ nghi ngại, làm thử đến tự mình kiểm chứng hiệu quả.

Điều giúp ông yên tâm hơn là giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật được cung ứng qua hợp tác xã và doanh nghiệp, hạn chế nguy cơ mua phải hàng giả hoặc hàng kém chất lượng. Theo ông, mô hình mới giúp lợi nhuận tăng thêm khoảng 3 triệu đồng/ha, tương đương khoảng 10% so với cách làm cũ, đồng thời giảm công lao động và kiểm soát tốt hơn lượng vật tư đầu vào.

Khi được hỏi có muốn trở lại cách sản xuất cũ trước đây hay không, ông Hà trả lời dứt khoát: “Không đâu, quy trình mới khỏe hơn và ngon hơn. Bây giờ đang đi đường khô ráo sướng hơn, tự nhiên đi lại đường sình lầy làm chi”. Cách ví von ấy cho thấy sự thay đổi không còn dừng ở việc làm theo hướng dẫn, mà đã trở thành lựa chọn chủ động.

Câu chuyện của ông Hà cho thấy niềm tin không thể tạo ra bằng mệnh lệnh hành chính. Một quy trình có thể được ban hành, một kế hoạch có thể được triển khai, nhưng người dân chỉ thay đổi khi nhìn thấy lợi ích. Đối với họ, cánh đồng xanh tốt, chi phí giảm và khoản lợi nhuận giữ lại sau vụ mùa luôn thuyết phục hơn những lời vận động hay giới thiệu.

Bài 1: Người trồng lúa đã dám làm khác- Ảnh 2.

Kỹ sư “3 cùng” bám ruộng, cùng nông dân theo dõi cây lúa và xử lý các vấn đề phát sinh trong mùa vụ – Ảnh: VGP/LS

Để người nông dân thay đổi: Phải bám ruộng, lội bùn, bắt sâu

Kỹ sư Võ Văn Vang đã có 16 năm cùng nông dân bám ruộng, hiện là Phó Giám đốc vùng nguyên liệu Vĩnh Bình, tỉnh An Giang của Tập đoàn Lộc Trời, anh vẫn nhớ nông dân đầu tiên mình hỗ trợ là ông Trần Văn Sự với 4 ha lúa OM6976 tại xã Khánh Hải, tỉnh Cà Mau, từ cuối năm 2010.

Theo nhật ký thực địa của anh Vang, 5h sáng, kỹ sư và khuyến nông viên đã xuống đồng; 5h30′ uống trà và trao đổi với nông dân; 6h cùng bà con lội ruộng kiểm tra sâu bệnh và sự phát triển của cây lúa.

Khoảng 9h, họ trở về nhà nông dân, trụ sở hợp tác xã hoặc trụ sở ấp để phân tích những vấn đề vừa phát hiện. Có cuộc trao đổi diễn ra sôi nổi, thậm chí tranh luận nảy lửa trước khi thống nhất cách xử lý. Một số nông dân vẫn hoài nghi nên kỹ sư phải tiếp tục giải thích hoặc hẹn hôm sau trở lại kiểm tra. Khoảng 18h, họ mới rời địa bàn.

Kỹ sư Võ Văn Vang rút ra rằng, thay đổi tư duy luôn khó hơn thay đổi kỹ thuật. Người trồng lúa ngại rủi ro vì sản xuất phụ thuộc thời tiết, trong khi tập quán truyền thống đã ăn sâu qua nhiều thế hệ. Không ít người từng chứng kiến mô hình thất bại nên thiếu niềm tin. Bởi vậy, lời nói chỉ có thể khơi mở sự quan tâm; kết quả trên ruộng mới là bằng chứng thuyết phục nhất.

Kỹ sư Cao Hoàng Tín, Tổ trưởng vùng nguyên liệu phụ trách địa bàn Thoại Sơn, An Giang, từng gặp phản ứng tương tự khi vận động nông dân sử dụng drone. Dù đã giải thích kỹ thuật phun và hiệu quả của thiết bị, nhiều người vẫn chưa chấp nhận vì quen cách làm truyền thống. Theo anh Tín, sự tin tưởng của nông dân và mong muốn giúp bà con có vụ mùa tốt hơn là lý do để các kỹ sư tiếp tục bám ruộng.

Tại Cà Mau, kỹ sư Quách Phi Thoàn cũng cho rằng tư duy là điều khó thay đổi nhất, bởi kinh nghiệm canh tác lúa nước đã hình thành qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, nếu được định hướng đúng, giải thích thuyết phục và nhìn thấy hiệu quả, nông dân sẽ từng bước thay đổi. Với ông, điều đáng nhớ còn là lúc cùng bà con vượt qua khó khăn, như sau một trận bão lớn phải ra đồng nâng từng bó lúa bị đổ ngã lên bờ.

Những câu chuyện ấy cho thấy kỹ sư “3 cùng” không chỉ mang kỹ thuật đến cánh đồng, họ còn xây dựng lòng tin giữa nông dân với doanh nghiệp, giữa kinh nghiệm cũ với phương thức mới. Nhưng sự thay đổi chỉ lan rộng khi người nông dân đã trải nghiệm trở thành người nói với người nông dân khác.

Ở xã Định Mỹ, sau những vụ mùa đầu tiên, ông Trương Thanh Hà không còn chỉ đứng nghe kỹ sư phân tích, mà bắt đầu chia sẻ với bà con xung quanh về lượng giống, chi phí và hiệu quả mình đã kiểm chứng. 

Từ một vài hộ mạnh dạn thay đổi, người đến sau học từ người đi trước. Người còn băn khoăn có thể tận mắt quan sát ruộng của hàng xóm. Khi một nông dân tự nguyện nói với người khác rằng cách làm mới có lợi, mô hình đã bước qua ranh giới của một cuộc vận động để trở thành lựa chọn của cộng đồng.

Bài 1: Người trồng lúa đã dám làm khác- Ảnh 3.

Hiệu quả trên đồng ruộng giúp những hộ đi trước lan tỏa cách làm lúa mới đến cộng đồng sản xuất – Ảnh: VGP/LS

Từ xây dựng niềm tin đến phát triển vùng nguyên liệu

Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời cho rằng, thành công đáng mừng nhất không phải là diện tích đã triển khai, mà là niềm tin của người nông dân đối với mô hình mới. Nhiều tập quán như gieo sạ dày, sử dụng nhiều phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật đã hình thành vài chục năm; muốn người dân tin rằng làm ít hơn nhưng hiệu quả hơn cần thời gian, sự đồng hành và những mô hình thực tế chứng minh lợi ích.

Nhận định ấy lý giải vì sao Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao không thể chỉ triển khai bằng kế hoạch tăng diện tích. Trước khi có vùng nguyên liệu lớn, phải có những nông dân dám thay đổi. Trước khi công nghệ phát huy tác dụng, phải có niềm tin để người dân chấp nhận áp dụng. Trước khi chuỗi liên kết hình thành, phải có kết quả đủ rõ để từng hộ thấy họ không đánh cược sinh kế vào một lời hứa.

Từ sự do dự của ông Trương Thanh Hà, những bước chân bám ruộng của các kỹ sư “3 cùng” như Võ Văn Vang, Cao Hoàng Tín, Quách Phi Thoàn… có thể thấy sự thay đổi của người nông dân phải được gây dựng qua từng lần giải thích, từng lần cùng lội ruộng, từng vụ mùa chứng minh rằng giảm đầu vào không đồng nghĩa giảm hiệu quả. Khi niềm tin được tạo dựng bằng thực tế, người nông dân không còn làm theo vì được vận động, mà tự lựa chọn con đường mới cho chính mình.

Nhưng một người thay đổi vẫn chưa đủ để tạo nên vùng sản xuất lớn. Cây lúa không dừng ở ranh giới từng thửa ruộng; nguồn nước, sâu bệnh, lịch thời vụ và chất lượng sản phẩm đều liên quan đến những hộ xung quanh. Sau khi người nông dân dám thay đổi, vấn đề lớn tiếp theo là làm thế nào để hàng trăm, hàng nghìn hộ cùng sản xuất theo một quy trình, để sự chuyển biến từ một thửa ruộng lan ra cả vùng nguyên liệu lớn, từ xã này sang xã khác khi cấp xã trở thành hạt nhân quan trọng của chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.

Lê Sơn

Bài 2: Khi cả cánh đồng cùng thay đổi

  • Tham khảo thêm

    Đưa Đề án 1 triệu hecta lúa từ chủ trương đến từng cánh đồng

    Đưa Đề án 1 triệu hecta lúa từ chủ trương đến từng cánh đồng

  • Tham khảo thêm

    An Giang tạo dấu ấn trong thực hiện Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp

    An Giang tạo dấu ấn trong thực hiện Đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp

  • Tham khảo thêm

    Đề án 1 triệu hecta lúa: Hạt gạo mang theo khát vọng phát triển bền vững

    Đề án 1 triệu hecta lúa: Hạt gạo mang theo khát vọng phát triển bền vững

  • Tham khảo thêm

    Tín dụng, dữ liệu và bảo hiểm: Ba trụ cột cho Đề án 1 triệu hecta lúa

    Tín dụng, dữ liệu và bảo hiểm: Ba trụ cột cho Đề án 1 triệu hecta lúa

Share
Bài viết bởi

Fatz Admin

Để lại một bình luận