(Chinhphu.vn) – Nhận định về Báo cáo Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025; tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ trình bày trước Quốc hội, TS….

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trình bày Báo cáo trước Quốc hội – Ảnh: VGP
Ông nhận định thế nào về Báo cáo Đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025; tình hình triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 mà Thủ tướng Chính phủ trình bày trước Quốc hội? Theo ông, đâu là điểm nhấn quan trọng nhất của Báo cáo?
TS. Cấn Văn Lực: Trước hết, theo tôi Báo cáo được xây dựng rất ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào các vấn đề trọng tâm. Đặc biệt, Báo cáo đã cập nhật khá đầy đủ tình hình kinh tế – xã hội cũng như việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội đến hết năm 2025 và quý I/2026.
Báo cáo không chỉ nêu rõ những kết quả đạt được, mà còn thẳng thắn chỉ ra các tồn tại, hạn chế và những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ trong thời gian tới.
Về nhiệm vụ, giải pháp, Báo cáo đã xác định rõ 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm với nội dung cụ thể, rõ ràng và có tính khả thi cao, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm nay. Đồng thời, các nội dung cũng bám sát Nghị quyết của Quốc hội và Kết luận 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua.
Một điểm đáng chú ý nữa là Báo cáo đã phân công nhiệm vụ khá cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương, qua đó thể hiện rõ tinh thần đổi mới trong cách điều hành và tổ chức thực hiện.
Theo tôi, Báo cáo không chỉ thể hiện quyết tâm của Chính phủ, mà còn cho thấy những đổi mới trong cách tiếp cận, từ việc giao nhiệm vụ đến triển khai thực hiện. Đồng thời, Báo cáo cũng cân đối hài hòa giữa các giải pháp trước mắt và định hướng dài hạn, như nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, tăng cường tính tự chủ và năng lực tự cường chiến lược.
Theo ông, bên cạnh những điểm tích cực thì đâu là những thách thức lớn nhất của nền kinh tế trong thời gian tới mà Báo cáo đã đề cập?
TS. Cấn Văn Lực: Báo cáo thực tế đã đề cập khá đầy đủ các khó khăn, thách thức của kinh tế – xã hội Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, có một số vấn đề cần đặc biệt lưu ý.
Trước hết, cần theo dõi sát và đánh giá kỹ hơn tác động của tình hình xung đột tại Trung Đông. Diễn biến này ngày càng phức tạp và có thể tác động sâu rộng đến một nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và kinh tế đối ngoại như Việt Nam. Do đó, việc xây dựng các kịch bản ứng phó phù hợp là rất cần thiết.
Thứ hai, mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong năm nay là rất thách thức, thậm chí có thể nói là khó khăn. Vì vậy, cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn, như tinh thần đã được nêu trong Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, tức là phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân cao trong cả giai đoạn. Theo đó, có thể có những năm tăng trưởng dưới 10%, nhưng sẽ có những năm phải nỗ lực đạt trên 10% để bảo đảm mục tiêu chung của cả nhiệm kỳ.
Một vấn đề quan trọng khác là cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản, đặc biệt về thể chế và chính sách. Hiện nay vẫn còn một số lượng lớn các dự án bị ách tắc, tồn đọng. Mặc dù Chính phủ nhiệm kỳ trước đã xử lý được một phần đáng kể, nhưng việc tiếp tục giải quyết dứt điểm các tồn đọng là rất cần thiết nhằm giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế, đồng thời củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với quá trình cải cách.
Cuối cùng, cần kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều biến động nhanh và khó lường, việc giữ vững ổn định vĩ mô sẽ là nền tảng quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững.
Ngoài những điểm nghẽn thì trong Báo cáo cũng có nêu những động lực như là đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng. Vậy theo ông, đâu là động lực quan trọng nhất?
TS. Cấn Văn Lực: Có thể thấy, những động lực mà Báo cáo nêu ra đều là các động lực truyền thống của tăng trưởng, theo tôi, cần tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng các động lực này.
Trước hết, với xuất khẩu, cần giữ vững đà tăng trưởng, đồng thời chú trọng hơn đến xuất khẩu dịch vụ. Các lĩnh vực như du lịch và logistics đã có cải thiện nhưng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, dẫn tới tình trạng nhập siêu dịch vụ kéo dài, trong đó riêng quý I vừa qua đã thâm hụt hơn 1 tỷ USD.
Về đầu tư, năm nay quy mô đầu tư công là rất lớn, khoảng 1 triệu tỷ đồng. Điều quan trọng không chỉ là giải ngân hết kế hoạch, mà còn phải nâng cao chất lượng đầu tư, bảo đảm hiệu quả thực chất của từng dự án. Đồng thời, cần cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân. Dù đã có cải thiện nhưng mức tăng đầu tư tư nhân hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Đối với tiêu dùng, đây là động lực quan trọng nhưng chỉ có thể phát huy bền vững khi gắn với việc bảo đảm thu nhập và việc làm cho người dân, cùng với lộ trình cải cách tiền lương, phúc lợi phù hợp. Bên cạnh đó, niềm tin của người tiêu dùng cũng là yếu tố then chốt để thúc đẩy chi tiêu.
Bên cạnh các động lực truyền thống, dư địa từ các động lực mới còn rất lớn. Trước hết là cải cách thể chế, nếu được đẩy mạnh, có thể tạo thêm dư địa tăng trưởng đáng kể. Tiếp đó là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những yếu tố có thể đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng. Ngoài ra, cần tăng cường liên kết vùng, phát huy vai trò các đầu tàu kinh tế như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng để lan tỏa sang các khu vực khác.
Chuyển đổi xanh cũng là một động lực quan trọng, không chỉ cho phát triển bền vững mà còn tạo ra không gian tăng trưởng mới thông qua thu hút đầu tư và hình thành các ngành kinh tế mới.
Cuối cùng, việc huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả là yếu tố then chốt. Cần đặc biệt quan tâm khai thác các nguồn lực còn đang bị ách tắc, lãng phí, đồng thời rà soát lại cơ cấu đầu tư, bảo đảm phân bổ hợp lý hơn giữa các lĩnh vực như hạ tầng, y tế, giáo dục, môi trường… nhằm nâng cao hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.
Vậy thì trên cơ sở của nội dung Báo cáo, ông nhìn nhận và kỳ vọng gì về triển vọng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?
TS. Cấn Văn Lực: Theo dự báo của chúng tôi, mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm nay là rất thách thức. Trong điều kiện thuận lợi hơn, chẳng hạn như không có xung đột tại Trung Đông và chính sách thuế quan của Hoa Kỳ ổn định, dễ dự báo hơn thì kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng này. Tuy nhiên, với những yếu tố bất định hiện nay, khả năng cao tăng trưởng chỉ đạt khoảng 9% hoặc nhỉnh hơn một chút đã là một kết quả rất tích cực.
Điều quan trọng là tăng trưởng cần gắn với việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó tạo nền tảng cho những năm tiếp theo. Với kịch bản cơ sở, nếu xung đột tại Trung Đông sớm hạ nhiệt trong thời gian tới thì Việt Nam có thể duy trì mức tăng trưởng khoảng 9% trong năm nay và có dư địa đạt mức cao hơn trong các năm sau.
Từ đó, mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% cho cả nhiệm kỳ vẫn là khả thi nếu chúng ta tận dụng tốt các điều kiện thuận lợi và tiếp tục cải cách mạnh mẽ.
Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, cần đặc biệt chú trọng đến việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Anh Thơ (thực hiện)
Để lại một bình luận